Social Icons

Featured Posts

Thứ Sáu, 23 tháng 11, 2012

Sản phẩm bình dân

Như chúng ta đã biết, không phải bà con nào cũng có thể sắm cho mình 1 chiếc máy lọc nước cao cấp, nhất là các hộ gia đình ở vùng lũ, vùng thiếu nước. Chính vì thế công ty chúng tôi xin hướng dẫn bà con cách làm mô hình lọc nước đơn giản như sau: 

1. Vật liệu:


- Thùng nước uống loại lớn hay các vỏ nhựa của chai Coca Cola.

- Cát sạch loại nhỏ.

- Than hoạt tính

- Cát sạch loại lớn.

- Sỏi loại nhỏ.

- Sỏi loại lớn


2.    Quy trình thực hiện:
B1: Làm sạch thùng, lấy các đất bẩn bám trên cát, đá sỏi.

B2: Cho vào thùng lớp sỏi lớn: 3/15 chiều cao thùng.

B3: Cho lớp sỏi nhỏ: 1/15 chiều cao thùng.

B4: Cho lớp cát lớn vào: 1/15 chiều cao thùng.

B5: Cho lớp than hoạt tính: 3/15 chiều cao thùng.

B6: Cho lớp cát nhỏ: 3/15 chiều cao thùng.
B7: Cho nước cần lọc vào thùng: 3/15 chiều cao thùng

* Cho nước vào nhẹ nhàng, không làm lẫn lộn giữa lớp cát nhỏ và than hoạt tính, tốt nhất là ở dạng giọt do vòi sen đưa vào.
* Có thể thiết kế thêm một van gần lớp cát nhỏ để xả phèn khi cần thiết.
3. Hình ảnh minh họa quy trình:




















4. Hiệu quả:
Lọc được những chất rắn, cặn bẩn và một số chất khác trong nước bị ô nhiễm.
Ứng dụng trong lọc nước sinh hoạt, bể cá, ao hồ, …
*       Ưu điểm:
Vật liệu rẻ, thông dụng, …
Cách làm đơn giản, ít tốn thời gian,
*       Khuyết điểm:
Chưa lọc sạch hoàn toàn nước (lọc thô).
Chỉ đáp ứng cho việc lọc nước ở quy mô nhỏ.
Thời gian chờ ra sản phẩm lâu.

Lưu ý: Bà con có thể tham khảo tại clip: 




Sản phẩm cao cấp

Máy lọc nước R.O cao cấp M800
Giá bán: 5.500.000
Kho hàng: Có sẵn hàng
Máy lọc nước R.O cao cấp M800
Chi tiết:

Máy lọc nước M800 hiệu DoctorWHO cung cấp nước uống an toàn, tinh khiết với công nghệ thẩm thấu ngược R.O với  chi phí thấp mà hiệu quả cao. Đây là loại máy được sử dụng rộng rãi trong các gia đình.
Hệ thống nước uống thẩm thấu ngược M800 hiệu DoctorWHO là một giải pháp thiết kế thông minh, Chất lượng cao, hệ thống chi phí thấp
DoctorWHO M800 là một hệ thống thiết bị nhà bếp hiện đại đã được thiết kế cẩn thận với kiểu dáng gọn đẹp, hiệu suất cao và tiện lợi. DoctorWHO M800 là một hệ thống có kiểu dáng thanh lịch nhất nước trên thế giới về hệ thống lọc.
DoctorWHO M800 hệ thống sử dụng công nghệ thẩm thấu ngược (RO) - được công nhận là hệ thống hiệu quả nhất làm giảm đáng kể một số lượng lớn các chất gây ô nhiễm có thể có trong nước của bạn mà không có hệ thống xử lý nước nào khác  có thể mang lại độ tin cậy cao như vậy.



Máy lọc nước R.O cao cấp Under Counter
Giá bán: 6.350.000
Kho hàng: Có sẵn hàng
Máy lọc nước R.O cao cấp Under Counter


Chi tiết:


Máy lc nước BAP-8088U hiệu DoctorWHO cung cấp nước uống an toàn, tinh khiết với công nghệ thẩm thấu ngược R.O với  chi phí thấp mà hiệu quả cao. Đây là loại máy được sử dụng rộng rãi trong các gia đình. 
Hệ thống nước uống thẩm thấu ngược BAP-8088U hiệu DoctorWHO là một giải pháp thiết kế thông minh, chất lượng cao, hệ thống chi phí thấp.  
DoctorWHO BAP-8088U là một hệ thống thiết bị nhà bếp hiện đại đã được thiết kế cẩn thận với kiểu dáng gọn đẹp, hiệu suất cao và tiện lợi. DoctorWHO BAP-8088U là một hệ thống có kiểu dáng thanh lịch nhất nước trên thế giới về hệ thống lọc.
DoctorWHO BAP-8088U hệ thống sử dụng công nghệ thẩm thấu ngược (RO) - được công nhận là hệ thống hiệu quả nhất làm giảm đáng kể một số lượng lớn các chất gây ô nhiễm có thể có trong nước của bạn mà không có hệ thống xử lý nước nào khác  có thể mang lại độ tin cậy cao như vậy.

Máy lọc nước R.O cao cấp Top Counter
Giá bán: 8.650.000
Kho hàng: Có sẵn hàng
Máy lọc nước R.O cao cấp Top Counter

Chi tiết:
Máy lc nước BAP-5088T hiệu DoctorWHO cung cấp nước uống an toàn, tinh khiết với công nghệ thẩm thấu ngược R.O với  chi phí thấp mà hiệu quả cao. Đây là loại máy được sử dụng rộng rãi trong các gia đình.

Hệ thống nước uống thẩm thấu ngược BAP-5088T hiệu DoctorWHO là một giải pháp thiết kế để bàn thông minh, chất lượng cao, hệ thống chi phí thấp.
DoctorWHO BAP-5088T là một hệ thống thiết bị nhà bếp hiện đại đã được thiết kế cẩn thận với kiểu dáng gọn đẹp, hiệu suất cao và tiện lợi. DoctorWHO BAP-5088T là một hệ thống có kiểu dáng thanh lịch nhất nước trên thế giới về hệ thống lọc.
DoctorWHO BAP-5088T hệ thống sử dụng công nghệ thẩm thấu ngược (RO) - được công nhận là hệ thống hiệu quả nhất làm giảm đáng kể một số lượng lớn các chất gây ô nhiễm có thể có trong nước của bạn mà không có hệ thống xử lý nước nào khác  có thể mang lại độ tin cậy cao như vậy.








Thứ Năm, 22 tháng 11, 2012

Những giải pháp cần để giảm ô nhiễm môi trường.


Các giải pháp được đưa ra như sau:
Có hệ thống xử lý nước thải công nghiệp trước khi thải ra môi trường nước bên ngoài.
Xử lý mạnh tay những ai vi phạm luật và khen thưởng những ai làm tốt làm đúng.
Tuyên truyền người dân có ý thức bảo vệ môi trường nước như đi vận động, họp, hoặc treo băng rôn.
Xây dựng cơ sở hạ tầng tốt để thoát nước ra ngoài không xả trực tiếp những nơi mình sinh sống và môi trường nước sạch.

Và 1 trong những giải pháp đang được đề xuất thực hiện ở TP.HCM đó là:
Nâng cao ý thức cộng đồng bảo vệ nguồn nước đô thị
Để có thể giảm bớt tình trạng ô nhiễm môi trường nguồn nước tại các kênh rạch , T.P Hồ Chí Minh đã đưa ra những giải pháp ưu tiên về chính sách và thể chế, về thanh tra giám sát ; các giải pháp khoa học kỹ thuật, hợp tác quốc tế...trong đó việc nâng cao ý thức cộng đồng bảo vệ nguồn nước đô thị được coi là giải pháp mang tính quyết định.
Trung tâm điều hành Chương trình chống ngập nước TP.HCM đề xuất việc hoàn thiện hệ thống thu gom và xử lý nước thải trước khi xả ra các kênh rạch; hỗ trợ lắp đặt thùng rác công cộng dọc kênh rạch, nạo vét cục bộ các vị trí kênh rạch bị bồi lắng để tăng cường khả năng thoát nước, giảm ô nhiễm. Tăng cường huy động vốn cho việc cải tạo, duy tu, nạo vét kênh rạch; đẩy mạnh công tác tuần tra, xử phạt nặng các trường hợp cố tình vi phạm lấn chiếm, xả rác, nước thải sản xuất chưa qua xử lý hoặc xử lý chưa đảm bảo xuống kênh rạch như buộc ngưng hoạt động, thu hồi giấy phép kinh doanh. 

Chính quyền địa phương cũng phối hợp với người dân tham gia vào công tác cung cấp thông tin về hành vi xâm hại đến hệ thống thoát nước, gây ô nhiễm môi trường. Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục và nhận thức cộng đồng về trách nhiệm bảo vệ môi trường, vận động sự tham gia tối đa của xã hội, xây dựng kế hoạch chương trình tham gia của cộng đồng trong các kế hoạch quản lý lâu dài đối với lĩnh vực tài nguyên nước qua các phong trào. Các hội thanh niên, hội phụ nữ xây dựng sổ tay vào bếp có nội dung song song với nấu nướng là những điều không nên làm như đổ dầu mỡ xuống hệ thống thoát nước, thay thế túi ni lông bằng túi vải không dệt, phân loại rác thải tại nguồn. Tuyên truyền thông qua phương tiện thông tin đại chúng như xây dựng các game show, truyền hình thực tế những chủ đề bảo vệ môi trường nước sông, kênh rạch; lồng ghép bảo vệ môi trường vào chương trình giảng dạy trong trường học. 

T.P Hồ Chí Minh có hơn 3.200 tuyến sông, kênh rạch với tổng chiều dài gần 5.100km. Tuy nhiên, tình trạng lấn chiếm và vứt rác bừa bãi, xả nước thải sản xuất chưa qua xử lý xuống những con sông, kênh, rạch này đã làm cản trở dòng chảy, gây ô nhiễm sông, kênh rạch. Chính vì vậy, để cải thiện tình trạng gây ô nhiễm, sự chung tay và nâng cao ý thức cộng đồng là mấu chốt để môi trường thành phố ngày càng sạch đẹp.
Theo Trung tâm Chất lượng nước và môi trường – Phân viện Quy hoạch Khảo sát Thủy lợi Nam Bộ, nước tại hệ thống kênh rạch Tp.HCM như kênh Thầy Cai và kênh An Hạ (Huyện Củ Chi), kênh B và kênh C (huyện Bình Chánh), kênh Bà Búp và kênh Trần Quang Cơ (huyện Hóc Môn), kênh Tân Trụ, kênh Hy Vọng (quận Tân Bình) hiện bị ô nhiễm nặng, nước đen ngòm và có mùi hôi thối. Một số kênh khác bị xả rác nhiều trong lòng kênh và người dân thường xuyên đổ phân gia súc vào đây như kênh Tân Trụ và kênh Hy Vọng. Các thành phần như BOD 5 (nhu cầu oxy sinh học), COD (nhu cầu oxy hóa học), chỉ tiêu vi sinh (coliform), hàm lượng chất lơ lửng (SS), kim loại nặng … vượt tiêu chuẩn gấp nhiều lần cho phép. 

(Nguồn: Hồng Nhung/ TTXVN)

Nguyên nhân gây ô nhiễm nước


Các tác nhân gây ô nhiễm nước

Ô nhiễm nước sinh học do các nguồn thải đô thị hay kỹ nghệ có các chất thải sinh hoạt, phân, nước rữa của các nhà máy đường, giấy...

Sự ô nhiễm sinh học thể hiện bằng sự nhiễm bẩn do vi khuẩn rất nặng, đặt thành vấn đề lớn cho vệ sinh công cộng chủ yếu các nước đang phát triển. Các bệnh cầu trùng, viêm gan do siêu vi khuẩn tăng lên liên tục ở nhiều quốc gia chưa kể đến các trận dịch tả. Các sự nhiễm bệnh được tăng cường do ô nhiễm sinh học nguồn nước. Thí dụ thương hàn, viêm ruột siêu khuẩn. Các nước thải từ lò sát sinh chứa một lượng lớn mầm bệnh. Thí dụ lò sát sinh La Villette, Paris thải ra 350 triệu mầm hiếu khí và 20 triệu mầm yếm khí trong 1cm 3 nước thải, trong đó có nhiều loài gây bệnh( Plancho in Furon,1962).
Các nhà máy giấy thải ra nước có chứa nhiều glucid dễ dậy men. Một nhà máy trung bình làm nhiễm bẩn nước tương đươngvới một thành phố 500.000 dân.
Các nhà máy chế biến thực phẩm, sản xuất đồ hộp, thuộc da, lò mổ, đều có nước thải chứa protein. Khi được thải ra dòng chảy, protein nhanh chóng bị phân hủy cho ra acid amin, acid béo, acid thơm, H2S, nhiều chất chứa S và P, có tính độc và mùi khó chịu

Âu thuyền Thọ Quang đang là điểm nóng về ô nhiễm môi trường ở Đà Nẵng do nước thải từ các nhà máy trong KCN dịch vụ thuỷ sản Thọ Quang

Dòng kênh xanh, giờ đen ngòm vì nước thải công nghiệp

Ô nhiễm hóa học do chất vô cơ

Do thải vào nước các chất nitrat, phosphat dùng trong nông nghiệp và các chất thải do luyện kim và các công nghệ khác như Zn, Cr, Ni, Cd, Mn, Cu, Hg là những chất độc cho thủy sinh vật.
Sự ô nhiễm do các chất khoáng là do sự thải vào nước các chất như nitrat, phosphat và các chất khác dùng trong nông nghiệp và các chất thải từ các ngành công nghiệp.
Nhiễm độc chì (Saturnisne) : Ðó là chì được sử dụng làm chất phụ gia trong xăng và các chất kim loại khác như đồng, kẽm, chrom, nickel, cadnium rất độc đối với sinh vật thủy sinh.
Thủy ngân dưới dạng hợp chất rất độc đối với sinh vật và người. Tai nạn ở vịnh Minamata ở Nhật Bản là một thí dụ đáng buồn, đã gây tử vong cho hàng trăm người và gây nhiễm độc nặng hàng ngàn người khác. Nguyên nhân ở đây là người dân ăn cá và các động vật biển khác đã bị nhiễm thuỷ ngân do nhà máy ở đó thải ra.
Sự ô nhiễm nước do nitrat và phosphat từ phân bón hóa học cũng đáng lo ngại. Khi phân bón được sử dụng một cách hợp lý thì làm tăng năng suất cây trồng và chất lượng của sản phẩm cũng được cải thiện rõ rệt. Nhưng các cây trồng chỉ sử dụng được khoảng 30 - 40% lượng phân bón, lượng dư thừa sẽ vào các dòng nước mặt hoặc nước ngầm, sẽ gây hiện tượng phì nhiêu hoá sông hồ, gây yếm khí ở các lớp nước ở dưới.
O nhiem nuoc 3.jpg
O nhiem nuoc 4.jpg

Sự ô nhiễm bởi các hydrocarbon là do các hiện tượng khai thác mỏ dầu, vận chuyển ở biển và các chất thải bị nhiễm xăng dầu

Ước tính khoảng 1 tỷ tấn dầu được chở bằng đường biển mỗi năm. Một phần của khối lượng này, khoảng 0,1 - 0,3% được ném ra biển một cách tương đối hợp pháp: đó là sự rửa các tàu dầu bằng nước biển. Các tai nạn đắm tàu chở dầu là tương đối thường xuyên. Ðã có 129 tai nạn tàu dầu từ 1973 - 1975, làm ô nhiễm biển bởi 340.000 tấn dầu (Ramade, 1989).
Ước tính có khoảng 3.6 triệu tấn dầu thô thải ra biển hàng năm (Baker,1983). Một tấn dầu loang rộng 12 km2 trên mặt biển, do đó biển luôn luôn có một lớp mỏng dầu trên mặt (Furon,1962).
Các vực nước ở đất liền cũng bị nhiễm bẩn bởi hydrocarbon. Sự thải của các nhà máy lọc dầu, hay sự thải dầu nhớt xe tàu, hoặc là do vô ý làm rơi vãi xăng dầu. Tốc độ thấm của xăng dầu lớn gấp 7 lần của nước, sẽ làm các lớp nước ngầm bị nhiễm. Khoảng 1,6 triệu tấn hydrocarbon do các con sông của các quốc gia kỹ nghệ hóa thải ra vùng bờ biển.
O nhiem nuoc 5.jpg
O nhiem nuoc 6.jpg
O nhiem nuoc 7.jpg

Chất tẩy rữa: bột giặt tổng hợp và xà bông

Bột giặt tổng hợp phổ biến từ năm 1950. Chúng là các chất hữu cơ có cực (polar) và không có cực (non-polar). Có 3 loại bột giặt: anionic, cationic và non-ionic. Bột giặt anionic được sử dụng nhiều nhất, nó có chứa TBS (tetrazopylène benzen sulfonate), không bị phân hủy sinh học.
Xà bông là tên gọi chung của muối kim loại với acid béo. Ngoài các xà bông Natri và Kali tan được trong nước, thường dùng trong sinh hoạt, còn các xà bông không tan thì chứa calci, sắt, nhôm...sử dụng trong kỹ thuật (các chất bôi trơn, sơn, verni).

Nước xà phòng của Cty bột giặt Nét tràn vào nhà dân.

Nước bơm xuống bể lọc lần 2 vẫn còn mùi tanh

Để lấy nước ăn, phải lọc lần thứ 3...

...sau đó tiếp tục lọc qua máy nóng lạnh.

Màng đóng dày trên lưới bể lọc

Trạm nước của thôn Huỳnh Cung, phục vụ dân trong thôn còn chưa đủ

Nước xà Phòng của Cty bột giặt Nét tràn lênh láng trên đường...

Nước giếng khoan trong bể lắng đục lờ, váng vàng nhớt bám quanh thành bể.

Nông dược (Pesticides)

Các nông dược hiện đại đa số là các chất hữu cơ tổng hợp. Thuật ngữ pesticides là do từ tiếng Anh pest là loài gây hại, nên pesticides còn gọi là chất diệt dịch hay chất diệt hoạ. Người ta phân biệt:
  • Thuốc sát trùng (insecticides).
  • Thuốc diệt nấm (fongicides).
  • Thuốc diệt cỏ (herbicides).
  • Thuốc diệt chuột (diệt gậm nhấm = rodenticides).
  • Thuốc diệt tuyến trùng (nematocides).
Chúng tạo thành một nguồn ô nhiễm quan trọng cho các vực nước. Nguyên nhân gây ô nhiễm là do các nhà máy thải các chất cặn bã ra sông hoặc sử dụng các nông dược trong nông nghiệp, làm ô nhiễm nước mặt, nước ngầm và các vùng cửa sông, bồ biển.\
Nước dùng của dân thành phố Arles (miền nam nước Pháp) có mùi khó chịu không sử dụng được, vào năm 1948. Nguyên nhân là do một nhà máy sản xuất thuốc diệt cỏ 2,4-D cách đó hàng trăm km thải chất cặn bã kỹ nghệ ra sông làm ô nhiễm nguồn nước.
Ô nhiễm của vùng bờ biển Thái Bình Dương của Hoa Kỳ, ở vịnh Californie, bởi hãng Montrose Chemicals do sự sản xuất nông dược. Hãng này sản xuất từ đầu năm 1970, 2/3 số lượng DDT toàn cầu làm ô nhiễm một diện tích 10.000 km2 (Mc Gregor, 1976), làm cho một số cá không thể ăn được tuy đã nhiều năm trôi qua.
Sử dụng nông dược mang lại nhiều hiệu quả trong nông nghiệp, nhưng hậu quả cho môi trường và sinh vật cũng rất đáng kể.
O nhiem nuoc 16.jpg

4. Ô nhiễm vật lý

Các chất rắn không tan khi được thải vào nước làm tăng lượng chất lơ lững, tức làm tăng độ đục của nước. Các chất này có thể là gốc vô cơ hay hữu cơ, có thể được vi khuẩn ăn. Sự phát triển của vi khuẩn và các vi sinh vật khác lại càng làm tăng độ đục của nước và làm giảm độ xuyên thấu của ánh sáng.
Nhiều chất thải công nghiệp có chứa các chất có màu, hầu hết là màu hữu cơ, làm giảm giá trị sử dụng của nước về mặt y tế cũng như thẩm mỹ.
Ngoài ra các chất thải công nghiệp còn chứa nhiều hợp chất hoá học như muối sắt, mangan, clor tự do, hydro sulfur, phènol... làm cho nước có vị không bình thường. Các chất amoniac, sulfur, cyanur, dầu làm nước có mùi lạ. Thanh tảo làm nước có mùi bùn, một số sinh vật đơn bào làm nước có mùi tanh của cá.
O nhiem nuoc 17.jpg
O nhiem nuoc 18.jpg


*Những hậu quả để lại
- Gây ra nhiều căn bệnh hiểm nghèo cho con người khi sử dụng nước bẩn.
- Làm giảm đa dạng sinh học: động vật và thực vật chết héo mòn dần.
- Mất mỹ quan đô thị khi các nước khác nhìn vào.
- Thiếu nước sạch sinh hoạt cho con người trong tương lai.

(Tổng hợp theo thuvienkhoahoc.com)

Thực trạng môi trường nước

Tình trạng ô nhiễm môi trường nước tại Việt Nam

Hiện nay ở Việt Nam, mặc dù các cấp, các ngành đã có nhiều cố gắng trong việc thực hiện chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường, nhưng tình trạng ô nhiễm nước là vấn đề rất đáng lo ngại.
Tốc độ công nghiệp hoá và đô thị hoá khá nhanh và sự gia tăng dân số gây áp lực ngày càng nặng nề dối với tài nguyên nước trong vùng lãnh thổ. Môi trường nước ở nhiều đô thị, khu công nghiệp và làng nghề ngày càng bị ô nhiễm bởi nước thải, khí thải và chất thải rắn. ở các thành phố lớn, hàng trăm cơ sở sản xuất công nghiệp đang gây ô nhiễm môi trường nước do không có công trình và thiết bị xử lý chất thải. Ô nhiễm nước do sản xuất công nghiệp là rất nặng. Ví dụ: ở ngành công nghiệp dệt may, ngành công nghiệp giấy và bột giấy, nước thải thường có độ pH trung bình từ 9-11; chỉ số nhu cầu ô xy sinh hoá (BOD), nhu cầu ô xy hoá học (COD) có thể lên đến 700mg/1 và 2.500mg/1; hàm lượng chất rắn lơ lửng... cao gấp nhiều lần giới hạn cho phép.

Hàm lượng nước thải của các ngành này có chứa xyanua (CN-) vượt đến 84 lần, H2S vượt 4,2 lần, hàm lượng NH3 vượt 84 lần tiêu chuẩn cho phép nên đã gây ô nhiễm nặng nề các nguồn nước mặt trong vùng dân cư. 
Mức độ ô nhiễm nước ở các khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công nghiệp tập trung là rất lớn.
Tại cụm công nghiệp Tham Lương, thành phố Hồ Chí Minh, nguồn nước bị nhiễm bẩn bởi nước thải công nghiệp với tổng lượng nước thải ước tính 500.000 m3/ngày từ các nhà máy giấy, bột giặt, nhuộm, dệt. ở thành phố Thái Nguyên, nước thải công nghiệp thải ra từ các cơ sở sản xuất giấy, luyện gang thép, luyện kim màu, khai thác than; về mùa cạn tổng lượng nước thải khu vực thành phố Thái Nguyên chiếm khoảng 15% lưu lượng sông Cầu; nước thải từ sản xuất giấy có pH từ 8,4-9 và hàm lượng NH4 là 4mg/1, hàm lượng chất hữu cơ cao, nước thải có màu nâu, mùi khó chịu…
Khảo sát một số làng nghề sắt thép, đúc đồng, nhôm, chì, giấy, dệt nhuộm ở Bắc Ninh cho thấy có lượng nước thải hàng ngàn m3/ ngày không qua xử lý, gây ô nhiễm nguồn nước và môi trường trong khu vực.
Tình trạng ô nhiễm nước ở các đô thị thấy rõ nhất là ở thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. ở các thành phố này, nước thải sinh hoạt không có hệ thống xử lý tập trung mà trực tiếp xả ra nguồn tiếp nhận (sông, hồ, kênh, mương). Mặt khác, còn rất nhiều cơ sở sản xuất không xử lý nước thải, phần lớn các bệnh viện và cơ sở y tế lớn chưa có hệ thống xử lý nước thải; một lượng rác thải rắn lớn trong thành phố không thu gom hết được… là những nguồn quan trọng gây ra ô nhiễm nước. Hiện nay, mức độ ô nhiễm trong các kênh, sông, hồ ở các thành phố lớn là rất nặng.  
Ở thành phố Hà Nội, tổng lượng nước thải của thành phố lên tới 300.000 - 400.000 m3/ngày; hiện mới chỉ có 5/31 bệnh viện có hệ thống xử lý nước thải, chiếm 25% lượng nước thải bệnh viện; 36/400 cơ sở sản xuất có xử lý nước thải; lượng rác thải sinh hoại chưa được thu gom khoảng 1.200m3/ngày đang xả vào các khu đất ven các hồ, kênh, mương trong nội thành; chỉ số BOD, oxy hoà tan, các chất NH4, NO2, NO3 ở các sông, hồ, mương nội thành đều vượt quá quy định cho phép ở thành phố Hồ Chí Minh thì lượng rác thải lên tới gần 4.000 tấn/ngày; chỉ có 24/142 cơ sở y tế lớn là có xử lý nước thải; khoảng 3.000 cơ sở sản xuất gây ô nhiễm thuộc diện phải di dời.
Không chỉ ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh mà ở các đô thị khác như Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng, Nam Định, Hải Dương… nước thải sinh hoạt cũng không được xử lý độ ô nhiễm nguồn nước nơi tiếp nhận nước thải đều vượt quá tiểu chuẩn cho phép (TCCP), các thông số chất lơ lửng (SS), BOD; COD; Ô xy hoà tan (DO) đều vượt từ 5-10 lần, thậm chí 20 lần TCCP. 
Về tình trạng ô nhiễm nước ở nông thôn và khu vực sản xuất nông nghiệp, hiện nay Việt Nam có gần 76% dân số đang sinh sống ở nông thôn là nơi cơ sở hạ tầng còn lạc hậu, phần lớn các chất thải của con người và gia súc không được xử lý nên thấm xuống đất hoặc bị rửa trôi, làm cho tình trạng ô nhiễm nguồn nước về mặt hữu cơ và vi sinh vật ngày càng cao. Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, số vi khuẩn Feca coliform trung bình biến đổi từ 1.500-3.500MNP/100ml ở các vùng ven sông Tiền và sông Hậu, tăng lên tới 3800-12.500MNP/100ML ở các kênh tưới tiêu.
Trong sản xuất nông nghiệp, do lạm dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật, các nguồn nước ở sông, hồ, kênh, mương bị ô nhiễm, ảnh hưởng lớn đến môi trường nước và sức khoẻ nhân dân.
Theo thống kê của Bộ Thuỷ sản, tổng diện tích mặt nước sử dụng cho nuôi trồng thuỷ sản đến năm 2001 của cả nước là 751.999 ha. Do nuôi trồng thuỷ sản ồ ạt, thiếu quy hoạch, không tuân theo quy trình kỹ thuật nên đã gây nhiều tác động tiêu cực tới môi trường nước. Cùng với việc sử dụng nhiều và không đúng cách các loại hoá chất trong nuôi trồng thuỷ sản, thì các thức ăn dư lắng xuống đáy ao, hồ, lòng sông làm cho môi trường nước bị ô nhiễm các chất hữu cơ, làm phát triển một số loài sinh vật gây bệnh và xuất hiện một số tảo độc; thậm chí đã có dấu hiệu xuất hiện thuỷ triều đỏ ở một số vùng ven biển Việt Nam.
Có nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường nước, như sự gia tăng dân số, mặt trái của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cơ sở hạ tầng yếu kém, lạc hậu: nhận thức của người dân về vấn đề môi trường còn chưa cao… Đáng chú ý là sự bất cập trong hoạt động quản lý, bảo vệ môi trường. Nhận thức của nhiều cấp chính quyền, cơ quan quản lý, tổ chức và cá nhân có trách nhiệm về nhiệm vụ bảo vệ môi trường nước chưa sâu sắc và đầy đủ; chưa thấy rõ ô nhiễm môi trường nước là loại ô nhiễm gây nguy hiểm trực tiếp, hàng ngày và khó khắc phục đối với đời sống con người cũng như sự phát triển bền vững của đất nước. Các quy định về quản lý và bảo vệ môi trường nước còn thiếu (chẳng hạn như chưa có các quy định và quy trình kỹ thuật phục vụ cho công tác quản lý và bảo vệ nguồn nước). Cơ chế phân công và phối hợp giữa các cơ quan, các ngành và địa phương chưa đồng bộ, còn chồng chéo, chưa quy định trách nhiệm rõ ràng. Chưa có chiến lược, quy hoạch khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước theo lưu vực và các vùng lãnh thổ lớn. Chưa có các quy định hợp lý trong việc đóng góp tài chính để quản lý và bảo vệ môi trường nước, gây nên tình trạng thiếu hụt tài chính, thu không đủ chi cho bảo vệ môi trường nước.  
Ngân sách đầu tư cho bảo vệ môi trường nước còn rất thấp (một số nước ASEAN đã đầu tư ngân sách cho bảo vệ môi trường là 1% GDP, còn ở Việt Nam mới chỉ đạt 0,1%). Các chương trình giáo dục cộng đồng về môi trường nói chung và môi trường nước nói riêng còn quá ít. Đội ngũ cán bộ quản lý môi trường nước còn thiếu về số lượng, yếu về chất lượng (Hiện nay ở Việt Nam trung bình có khoảng 3 cán bộ quản lý môi trường/1 triệu dân, trong khi đó ở một số nước ASEAN trung bình là 70 người/1 triệu dân)...
(Theo VOV)